Bố tôi

Tháng Chín 3, 2007

x

 Theo gia phả còn để lại thì họ Trần phát tích tại Hưng Yên kể từ cụ tổ bốn đời Trần đình Thụ. Năm 1825, vua Minh Mệnh xuống dụ cấm đạo Thiên Chúa, nói rằng: “Đạo phương Tây là tà đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong tục, cần phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo.” Một trong những lí do bị cấm đoán là đạo Thiên Chúa không cho tín đồ của mình thờ cúng ông bà tổ tiên vốn là một tập quán cổ truyền của người Việt nam. 

Căn cứ theo tài liệu Lịch Sử Dân Sự Quốc Gia Khâm Ðịnh Sử thì đạo Công giáo đ4 truyền vào Việt nam từ thời nhà Lê, thế kỉ thứ 16.:

 

“Năm Nguyên Hòa nguyên niên, tức đời vua Lê Trang Tôn, năm 1533 đã có người Tây tên  là Inekhu đi đường bể vào giảng đạo Thiên Chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh thuộc huyện Nam Châu (tức Nam Trực) và ở làng Trà Lũ huyện Giao Thủy”. Rất tiếc là những chi tiết liên hệ tới Inekhu (có lẽ được phiên âm từ Inigo – tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là Inhaxiô) ngày nay không còn được ghi nhớ, và do đó không ai biết rõ về tông tích, cũng như về công cuộc truyền đạo của vị thừa sai thứ nhất này.

 “Ở nước Nam ta từ khi đã có người Âu-la-ba sang buôn bán, thì tất là có giáo sĩ sang dạy đạo. Cứ theo sách Khâm Ðịnh Việt Sử, thì năm Nguyên Hòa nguyên niên đời vua Trang tông nhà Lê (1533) có người Tây tên là I-nê-khu đi đường bể vào giảng đạo Thiên chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh, thuộc huyện Nam Chân (tức là Nam Trực) và ở làng Trà Lũ, thuộc huyện Giao Thủy.” Trần trọng Kim, Viet nam sử lược. 

Sự truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam đặc biệt kể từ cuối thế kỷ XVIII sang nửa đầu thế kỷ XIX, không thuần túy chỉ là việc truyền bá đức tin mà chứa đầy nghi ngờ có cơ sở thực tiễn về sự liên hệ với âm mưu xâm lược của Pháp. Đây chính là một trong những nguyên nhân đẩy triều Nguyễn đi tới chủ trương cấm và giết đạo…

 

Từ Nguyễn Ánh đến Tự Đức, trong thế kỉ 19, vác vua nhà Nguyễn đã ban hành nhiều biện pháp nghiêm nhặt gồm cả tử hình đối với những người theo Thiên Chúa giáo dựa trên những ngộ nhận đến từ nội tình chính trị của nước ta và những đòi hỏi của phong trào đòi tự do mậu dịch, mở cửa thương mại và một nền kinh tế phát triển theo mô hình toàn cầu hóa, chứ không phải mô hình xã hội bế quan tỏa cảng của nhà cầm quyền đương thời.

Tờ chiếu đầu tiên của Nguyễn Ánh ban hành tháng giêng năm Giáp tý (1804), nhận định  về đạo Thiên chúa như sau:

 

“Lại như đạo Gia-tô là tôn giáo nước khác truyền vào nước ta, đặt ra thuyết thiên đường địa ngục khiến kẻ ngu phu ngu phụ chạy vạy như điên, tiêm nhiễm thành quen, mê mà không biết. Từ nay về sau, dân các tổng xã nào có nhà thờ Gia-tô đổ nát thì phải đưa đơn trình quan trấn mới được tu bổ, dựng nhà thờ mới thì đều cấm. Những điều trên đây đều là nên cố đổi tệ cũ, kính giữ giáo điều. nếu cứ quen thói làng, can phạm phép nước, có người phát giác thì xã trưởng phải đồ lưu đi viễn châu, dân hạng, nặng thì sung dịch phu, nhẹ thì xử roi hay trượng, để bớt phí cho dân mà giữ phong tục thuần hậu” (ĐNTLCB, tập III, Nxb Sử học, Hà Nội, 1963, tr. 168).

 

Minh Mạng đã ra nhiều chỉ dụ, chỉ dụ đầu tiên về việc cấm đạo đối với dân chúng Việt Nam trong toàn quốc tháng 11 Nhâm Thìn (1832). Nội dung đạo dụ này đại ý như sau: Đạo Gia-tô là của người Tây dương truyền vào nước ta từ lâu mê hoặc dân chúng, học thuyết của họ không tin được, lại trái với phong tục dân ta, việc này phạm vào pháp luật…

 

Đạo dụ thứ hai tháng 1-1836 cấm chỉ tà giáo phương Tây, xử chém những người Tây dương lẩn lút không khai báo, những đạo trưởng đang ẩn trong nhân gian…

 

Chỉ dụ thứ ba, tháng 5 Mậu Tuất 1835 riêng cho ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa chỉ bắt tội các đạo trưởng Tây và ta, không trị tội giáo đồ, không được nhiễu dân. Dụ này nhằm hạn chế sửa chữa những lệch lạc trong khi thi hành dụ trước, chủ yếu ở ba địa phương kể trên.

 

Chỉ dụ thứ tư, (mật), tháng 6 Kỷ Hợi 1839, cho các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, truy nã, đạo trưởng Tây Dêduminô, tức Vọng hay Siméon Francois Berneux bằng mọi biện pháp.

 

Chỉ dụ thứ năm, (mật), tháng 6 Kỷ Hợi 1839, cho các tỉnh Nam Kỳ điều tra phản ứng của giáo dân và tình hình đạo Thiên Chúa kể từ sau sự biến Lê Văn Khôi.

 

Thiệu Trị lên ngôi thay Minh Mệnh có ý muốn thay đổi biện pháp khôn ngoan hơn, dù vẫn không chấp nhận đạo Gia-tô… Tiếc thay ngay năm đó (Đinh Mùi 1847) lại xẩy ra sự kiện thủy chiến ở Đà Nẵng, quân triều đình thua thiệt, lại thấy có hiện tượng giáo sĩ thông tin tức cho tầu giặc, Thiệu Trị tức giận đã nói với các triều thần đại ý: thuốc phiện và đạo Gia-tô là hai mối hại, phải xuống dụ và ghi vào quốc sử…

 

Chỉ dụ thứ sáu, tháng 3 Đinh Mùi (4-1847) tuyên bố lại các chỉ dụ cấm đạo thời Minh Mệnh, như một bị vong lục, để chứng tỏ Thiệu Trị không khoan dung với các giáo sĩ và đạo Gia-tô như trước nữa, bởi họ đã không đếm xỉa gì tới tình hình đó.

 

Chỉ dụ thứ bảy, tháng 9 năm Đinh Mùi (10-1847) ban hành chủ yếu nhằm đối tượng các quan văn võ theo đạo, nếu không hối lỗi sẽ bị trị tội, lấy tiền đề là việc xuất đội Vũ Văn Điển tiết lộ quân cơ cho địch trong sự kiện thủy chiến ở Đà Nẵng kể trên…

 

Sau khi Thiệu Trị qua đời, Tự Đức lên nối ngôi và tuyên bố đi theo đường lối cũ của cha ông đối với các giáo sĩ và đạo Thiên Chúa…

 

Đạo dụ thứ tám, tháng 6 Mậu Thân (1848) phân biệt xử lý với từng loại theo các hình phạt khác nhau, nhưng nặng nhất là với các giáo sĩ Tây dương, bị quăng xuống biển, rồi tới các linh mục Việt Nam không chịu hối cải bị xử tử, còn giáo dân không bị giết, nếu không hối cải thì bị thích chữ vào mặt.

 

Chỉ dụ thứ chín, tháng 7 nhuận Giáp Dần (1864) vẫn xử nặng các giáo sĩ Tây và linh mục Việt, nhưng nhẹ với giáo dân (chỉ bị phát vãng ở miền núi không được ở miền biển) và nhẹ với quan lại (chỉ bị cách chức). Ngoài ra chỉ dụ này quy định thêm tội chứa chấp giáo sĩ Tây dương: các quan lại từ phủ trở lên bị giáng cấp lưu nhiệm, tổng lý bị đánh trượng.

 

Chỉ dụ thứ mười, tháng 10 Đinh Tỵ (1857) ban hành sau hàng loạt sự kiện nổi dậy của giáo dân và nông dân vùng Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên và vụ Hồ Đình Hy. Dụ này qui định việc tịch thu gia sản những người che giấu đạo trưởng.

 

Chỉ dụ thứ mười một, tháng 4 Kỷ Mùi (1859). Chỉ dụ thứ mười hai, tháng 9 Kỷ Mùi (1859) ban hành liên tiếp sau khi Pháp đánh Đà Nẵng và Nam Kỳ, khi Tự Đức nghe tân báo có hiện tượng giáo dân đi theo địch. Các dụ này đề ra các biện pháp ngăn giữ, quản thúc những người theo đạo, kể cả kêu gọi giáo dân đừng theo giặc, phân tán họ vào các xã lương dân v.v. Điều đặc biệt là các dụ này không hề đề ra một hình phạt nào xử tử cả mà chỉ nói tới giam giữ, nếu người giáo dân có tội thực thì bị bắt giữ, tài sản đem chia đều cho người khác.

 

Chỉ dụ thứ mười ba, tháng Chạp Kỷ Mùi (đã sang tháng 1-1860) ban hành sau khi hành hình cụ Thái (linh mục Đỗ Thế Hùng) cùng nhiều đồng lõa cầm đầu cuộc nổi loạn phù Lê Duy Huân. Dụ này trở lại việc xử nặng các quan văn võ theo đạo…

 

Chỉ dụ cuối cùng thứ mười bốn, tháng 11 Tân Dậu (1861) ban hành khi chiến sự miền Nam đang ác liệt, đặt ra biện pháp xử trí rất nặng là thắt cổ và giam đến chết những giáo dân thực sự ngạo mạn và có tội đang bị giam giữ. Những giáo dân đưa đi an trí không hối cải thì chỉ bị phạt đánh trượng.

 

Sau khi ký hàng ước Nhâm Tuất 6-6-1862, Tự Đức cho tha tội các giáo dân bị bắt giữ, nhưng những người đích thực có thông đồng với giặc Pháp thì các quan địa phương tra xét rõ rồi trị tội. Đây là lệnh trực tiếp của Tự Đức, không phải một đạo dụ riêng.

Năm Tự Đức thứ tư (1851), vua ra chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa, triệt hạ các làng có đạo và phân sáp các bổn đạo vào các làng bên lương. Cụ Thụ bị bắt giam trên tỉnh và cụ bà phải mang hai người con thứ là Trần đình Đào và Trần đình Hạnh đi phân sáp tại làng Vị Xuyên, tỉnh Nam định.

 

Làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh là nơi ông Tú Xương ở. Ông sinh năm 1870 và mất năm 1907. Ông thật là “văn hay chữ tốt”, vậy mà lại lận đận khoa trường. Ông đã để lại cho hậu thế trên 200 bài thơ Nôm, đủ mọi thể loại: Ðường Luật, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, phú, văn tế, hát nói, lục bát và câu đối.

Khi giáo hội thành lập giáo sứ Nam định từ giáo sứ Trình Xuyên thì cụ Đào được phong chức chánh trưong. Vì có công xây nhà thờ và mua đất lập nghĩa trang ở Nam định nên khi cụ mất, giáo hội đã tỏ lòng biết ơn cụ bằng cách cử cha Trần Lục xứ Phát diệm ra đưa đám cụ. Cụ Đào sinh ra cụ Trần thị Xuân, cụ Xuân kết duyên – kế thất – với cụ Án sát Trần văn Viễn và sinh ra ông nội tôi là cụ huyện Quế năm 1880. Gia phả họ Trần cho ta thấy đây là dòng họ theo Công giáo đã lâu đời (đạo gốc), thuộc tầng lớp trí thức, quan lại, thành phần trung nông, địa chủ, từng có kinh nghiệm di dân của miền Bắc từ thế kỷ 19, song hành với những biến động và bạo động lịch sử đất nước gây nên bởi áp lực dân số…

 

Bố tôi tên là Trần văn Bính, sinh năm 1914 khi thế chiến I bùng nổ ở châu Âu, là người con thứ 5 trong một gia đình 7 anh chị em, của cụ Trần văn Quế, làm chức Tri huyện Quỳnh côi khi về hưu và bà Trần thị Thục, con cố phủ Trần ngọc Quang, một vị đại điền chủ có công đức lớn với nhân dân địa phương làng Đồng Nghĩa và Qũy Nhất trong vùng và được kính nể. Cụ huyện Quế bị Tây bắn chết tại nhà trong một cuộc càn tại làng Đồng nghĩa. Có một giả thuyết khác cho là Việt minh chứ không phải là Pháp đã giết cụ.

 

Ông sinh vào một thời đại khi những phong trào dành độc lập và quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa đang trên đà phát triển mạnh. Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập chế độ thống trị rất tàn bạo, hà khắc và phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta, xã hội Việt Nam đã có những biến đổi lớn: Từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến; hai mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong xã hội ngày càng gay gắt.

 

Trong viễn cảnh lịch sử đó, nhân dân Việt nam đã liên tiếp đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu và các nhà yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Song các phong trào đấu tranh đó đều thất bại, nguyên nhân chủ yếu là chưa tìm được con đường cứu nước đúng đắn, chưa có một lực lượng xã hội, một tầng lớp tiên tiến và một tổ chức kháng chiến chặt chẽ đủ sức lãnh đạo phong trào.

 

Với đường lối bạo động, Việt minh lúc đầu đã quy tụ đoàn kết xung quanh mình các tầng lớp yêu nước không phân biệt dân tộc, tôn giáo xây dựng nên lực lượng to lớn và rộng khắp trong cả nước, đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược.

 

Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bố tôi cùng với thế hệ thanh niên bấy giờ cũng đã bị cuốn hút vào cơn lốc kháng chiến và gia nhập phong trào Việt minh trong những năm 1940 ở Nam định trong chiến dịch chống nạn đói và nạn mù chữ do Nguyễn Hữu Đang, người bị đấu tố trong vụ án Nhân văn Giai phẩm và mới chết năm 2007 ở Việt nam, đứng đầu..

 

Cho tới bây giờ, tôi còn nhớ mãi những lần được bố cho đi ăn thịt bò chiên (steak) và uống nước chanh đá rồi ăn kem cây ở vườn hoa Paul Bert Nam định mỗi khi bố đi đánh quần vợt ra. Ôi những miếng tỏi cháy vàng trên bếp lửa sao mà thơm vậy, những ngụm chanh đá sao mà mát thế, nhất là vào những buổi chiều hè ở thành phố có tên là Nam định ngày đó.

Chúng tôi ở địa chỉ số 1 ngõ Văn nhân, Nam định. Văn nhân là một ngõ nhỏ, một đầu thông ta phố hang Thiếc, một đầu thông ta phố Khách. Nam Định cũng được biết đến với phở Nam Định. Các hàng phở Nam Định ngon có thể tìm thấy tại ngõ Văn Nhân. Tôi sau này chọn quần vợt là môn thể thao ưa chuộng nhất của tôi cũng do ảnh hưởng của ông mà ra.

 

Vào khoảng đầu thập niên 1950, Việt minh phát động phong trào đấu tố, cải cách ruộng đất ở vùng sông Đáy khiến ông phải rời quê qua học kế toán tại Paris trong khoảng này, để lại 5 con nhỏ cho mẹ tôi nuôi dưỡng tại làng Đồng nghĩa, Nam định. Tại miền Bắc Việt Nam, cải cách ruộng đất trong thập niên 1950 có nghĩa là tịch thu ruộng đất của địa chủ, phú nông và cả một số trung nông chia cho dân cày nghèo. Đây là một trong những phương cách chính yếu mà những người theo chủ nghĩa Cộng sản nghĩ rằng phải thực hiện để lập lại công bằng xã hội, tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng. Trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Manifesto), Karl Marx đã tuyên bố: “cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc”.

 Theo tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 11 năm 1953, Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 5 quyết định tiến hành việc cải cách ruộng đất tại miền bắc Việt Nam. Từ năm 1953 tới 1957, 810.000 hécta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2 triệu hộ nông dân, chiếm khoảng 72,8% số hộ nông dân ở miền Bắc. Trong khi đó, phân bố ruộng đất miền Bắc trước năm 1945, chỉ có 4% dân số đã chiếm hữu tới 24,5% tổng số ruộng đất. 

Sau khi tốt nghiệp ông ở lại Paris, Pháp làm việc cho một hãng làm bánh kẹo. Tôi còn nhớ đã từng được chơi đồ chơi Lago, ăn kẹo Dragé, chocolat Thụy sĩ do ông gửi về cũng như biết dùng radio để nghe đài BBC tiếng Việt từ thuở ấy.

 

Về sau này ông tiết lộ rằng ông đã thu xếp để mang gia đình qua Pháp nhưng vì mẹ không chịu đi nên sau đó ông trở về Việt nam làm thanh tra thuế quan ở Hà nội, rồi làm chuẩn uý quân nhu. Vụ cải cách ruộng đất trong thực tế đã cướp đi tài sản gia đình cũng như đã gây chia rẽ và li gián giữa ông và mẹ tôi. Những sự cố trên đã có những ảnh hưởng trầm trọng trên cuộc đời của thế hệ chúng tôi sau này. Lúc ấy gia đình chúng tôi ở tại số 6 Yết Kiêu, bên cạnh đấu Sảo, đối diện nhà thưong Đặng vũ Lạc và gần hồ Halais cũng có tên là hồ Thuyền Quông. Căn hộ này có hai tầng, gia đình tôi ở trên lầu, thuê của bác ba Lâm. Từ nơi này, mỗi sang sớm tôi đạp xe qua phố hang Ngang, đi học trường Chu văn An trên Quan Thánh. Tôi còn nhớ những buổi mai trời rét như cắt, tôi đạp xe tới trường rồi mua món bánh mì kẹp chả bò chiên với thì là, ôi sao mà ngon thế. Cho tới bây giờ mỗi lần nghĩ tới tôi vẩn còn ứa nước miếng ra miệng.

 Từ ngày thành lập trường đã có nhiều học sinh là những danh nhân của Việt Nam như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Xuân Hãn, Ngụy Như Kon Tum, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Khắc Viện Trong số các giáo viên từng dạy ở trường Bưởi cũng có các giáo sư nổi tiếng như Nguyễn Lân, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh TườngTrường Bưởi được thành lập năm 1908, dưới thời Pháp thuộc, với tên ban đầu là Collège du Protectorat, sau đổi là Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ). Tuy nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ không đề ra mục tiêu giáo dục lòng ái quốc, các học sinh trong trường đã thông qua những hành động cụ thể đi ngược lại chủ trương của thực dân Pháp. Họ tổ chức bãi khóa đòi ân xá nhà yêu nước Phan Bội Châu hay để tang Phan Chu Trinh, hưởng ứng phong trào Việt Minh 

Năm 1945, trường đổi tên thành trường Chu Văn An, mang tên nhà giáo dục và nhà văn Việt Nam đời Trần, vốn người làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội.

 

Hiệp định Geneve 1954 chia cắt đất nước làm 2 cũng chia rẽ gia đình tôi. Cô út theo mẹ tôi đáp tầu biển Mỹ vào Nam, những người còn lại theo ông đáp máy bay vận tải của quân đội Pháp từ phi trường Bạch mai vào Saigon và tạm trú tại một khách sạn gần đường Tổng đốc Phương Chợ lớn trước khi dọn về khu Thăng Long, gần trường đua Phú thọ, Chợ lớn.

Sau một thời gian ngắn ông đổi lên làm việc tại nha Địa dư Quốc gia Đalat đồng thời ông được giao nhiệm vụ coi sóc Câu lạc bộ Địa dư ở số 6 đường Nguyễn du gần ga Đalat. Gia đình ông cũng được trú ngụ ngay tại địa chỉ này. Có thể nói đây là nhiệm sở cuối cùng ở Việt nam cho đến chi ông về hưu. Thời gian sống với ông ở Đalat có thể nói là hạnh phúc nhất của đời tôi. Ông sống cảnh gà trống nuôi con cho đến khi chúng tôi khôn lớn, thành người

“Ông cụ nuông chiều các cậu quá” câu nói của anh bạn vong niên Đinh nguyên Mạnh quả không sai và có lẽ một phần vì anh em chúng tôi thiếu tình mẫu tử hoặc chúng tôi đã tỏ ra “xứng đáng với lòng tin yêu của ông”

Một tai nạn xe cộ do tôi gây ra một buồi chiều đi tắm biển Cà Ná, Phan rang trở về Đalat. Tôi lạc tay lái khiến chiếc xe Standard 4 máy của Anh chế tạo đâm xuống ruộng lúa ven đường. Ông bình tĩnh tuy có đôi chút bực bội gọi người từ Đalat xuống kéo xe về sửa. Sau đó, ông vẫn để tôi lái xe đi dậy như thường, không thắc mắc.

Ông về hưu sau những năm làm việc tại nha Địa dư Đalạt và về hưu dưỡng tại Trại Hầm, nơi có trại mận. Sau đó không lâu, ông theo chân các con về Saigon và mua một khu đất miền cầu Bình lợi Saigon để canh tác và nuôi cá.

Tôi dọn ra ở riêng sau khi lập gia đình và rời Đalat nhận nhiệm sở mới ở Saigon vào năm 1970. Ông cũng dọn về miền Cầu Bình lợi cho đến khi di tản cùng gia đình tôi qua Mỹ nhân biến cố tháng 4 năm 1975.

Qua Mỹ, sau một thời gian định cư ở Austin Ông dọn về Houston vì lí do công ăn việc làm, bạn bè cũng như tình cảm phức tạp còn tồn đọng từ lần kết hôn thứ nhất, mặc dù hai người không bao giờ còn có dịp gặp mặt nhau. Ở Houston, ông tái hôn một lần nữa và đây là một hôn nhân không mang lại hạnh phúc. Ít năm sau ông quyết định về lại Saigon với bà vợ thứ hai, nhưng cũng không hạnh phúc. Trở về Mỹ, ông mất tại Houston.

Lần chót tôi gặp ông là tại khách sạn Sheraton ở phi trường LAX. Tôi cố chống nạng đi gặp ông một lần, hi vọng chưa phải lần cuối cùng. Nhưng bữa đó tôi chỉ oà khóc nức nở chi nhìn thấy xác thân ốm o, hao mòn của một người đàn ông hom hem đang nằm bất động như một con cá khô trên giường khách sạn. Thấy ông tiếp tục nằm im lặng như một pho tượng đá, tôi đoán hay là ông giận hờn gì mình và tôi cho tay vào trong chăn, thọc lét chân ông. Ông phản ứng bằng một vài cử động yếu ớt nhưng mắt ông vẫn nhắm nghiền, không có một trả lời.

Cuối cùng chúng tôi phải ra về. Đây cũng là lần cuối tôi nói lời từ biệt với ông vì mặc dù ông không một giây mở mắt nhưng tôi vẫn hi vọng ông biết là tôi đã đến bên giường ông. Ôi thân xác và hình hài con người mỏng manh biết bao! Nước mắt tôi cứ chảy ra, không cầm được…Ông mất tại Houston Texas ngày   tháng   năm 2006 hưởng thọ 92 tuổi. Ông là người con sau cùng của cụ Huyện Quế được Chuá gọi.

Vì hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo cùng với biến cố gọi là cải cách ruộng đất mà hậu quả là bần cùng hóa gia đình tôi nên tôi đã được bố mẹ dạy lại cho bài học “tự lực cánh sinh, tự túc tự cường, thân tự lập than, trông cậy vào sức mình là chính” như là những giá trị mà cả 5 anh em chúng tôi đuợc nuôi dưỡng trong suốt cuộc đời mình.

Lúc qua Mỹ ông đã ngoài 60 nhưng vẫn đi làm, đóng an sinh xã hội cho đến khi về hưu chứ không muốn ngồi không, ăn tiền già. Tự lực cánh sinh, trông cậy vào sức mình là chính, không nhờ vả vào người khác hoặc con cái là một cá tính mà tôi thừa hưởng từ bố và mẹ mà chắc cũng sẽ được di truyền lại cho con, cháu và những thế hệ tương lai của tôi.

Ông là người có cái TÂM của một con người lương thiện, tuy ông không có cái trí của một người lỗi lạc biết được cái gì có thể chấp nhận và cái gì phải phủ nhận trên thế giới này;  ông là người có cái Hồn chất chứa nhiều tình cảm u uẩn. Số phận của bản thân ông phản ánh số phận của đại bộ phận dân tộc thời ông. Đó là bi kịch của một con người “tiến thoái lưỡng nan”. Những bế tắc về tư tưởng, về công danh, và cảnh cô đơn đã khiến ông phiền muộn. Ông đã trút vào nhật kí của ông tất cả những nỗi ưu uất của lòng mình. Ông đã nói lên, nói thẳng và nói thật. Ông là một nhân vật có tâm hồn cao đẹp, có phẩm cách. Nỗi đau đời, những trăn trở riêng chung, tiếng cười tiếng nói của ông vẫn còn vang vọng trong tôi mãi mãi.

Ông đã để lại cho chúng tôi một di sản vô cùng quí báu là một trình độ học vấn, đảm bảo một cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho tương lai trong bất cứ tình huống nào bởi vì như lời của cổ nhân: “Để lại cho con một kho vàng không bằng để lại cho con một rương sách”.


Nói về họ Trần

Tháng Chín 1, 2007

 Trích từ bài của sakura viết lúc 11:32 ngày 27/02/2007:




Nói về họ Trần thì có ở khắp mọi nơi cả Trung Quốc lẫn VN, nhưng nói về dòng dõi nhà Trần (trị vì VN) thì nguồn gỗc lại ở khu vực Nam Định-Thái Bình bây giờ. Về khu vực đó các bạn có thể thấy được rất nhiều nhà thờ của dòng họ nhà Trần với các chi, nhánh khác nhau.

Ở một làng người ta có thể phân biệt được vị trí của mình là thế hệ thứ bao nhiêu. Ví dụ: quê nội tôi mọi người đều mang họ Trần Tất (tất cả làng đều mang họ Trần), các làng xung quanh đều có họ đặc trưng riêng: Trần Đức, Trần Quang, Trần Trọng…..
Khi hai người được giới thiệu với nhau thì thông qua cái tên đệm họ có thể biết được người kia gốc ở làng nào, có vị trí là CHI mấy của dòng họ….
Tôi cũng chưa có nhiều thời gian lắm để khảo sát tất cả các dòng họ trong khu vực Nam Định – Thái Bình cũng như được tìm hiểu kỹ lưỡng gia phả của dòng họ (vì thuộc hàng tôm tép nên giỗ họ toàn bị đứng ngoài, nghe đọc lõm bõm mấy câu )
Hôm nào về làng hỏi kỹ thêm sẽ tiếp tục bàn luận với các bạn
SAKURA@TL 


Cùng họ không đồng tông

Tháng Chín 1, 2007


Có 3 thực tế mà căn cứ vào gia phả ta được biết,
 1) Những người mang cùng một họ, như họ Nguyễn hay Trần chẳng hạn, chưa chắc đã là đồng tông.  2) Những người hiện nay mang họ khác nhau nhưng rất có thể họ lại vốn có chung một ông tổ.  3) Thay đổi họ là điều thường xảy ra ở VN, do sợ bị bức hại, do được ban quốc tính (họ vua), đo đi làm con nuôi…. Thí dụ, người ta biết rằng cho đến đầu năm 1998, tại 25 tỉnh thành có họ Mạc cư trú lâu đời đã có những chi đổi sang các họ sau đây: Bế, Bùi, Bùi Đăng, Bùi Đình, Bùi Thái, Bùi Trần, Cát, Chử, Doãn, Đào, Đặng, Đoàn, Đỗ, Hoa, Hoàng, Hoàng Đăng, Hoàng Đình, Hoàng Đức, Hoàng Khắc, Hoàng Như, Hoàng Trung, Hồ Đăng, Huỳnh, Khổng, Lê, Lê Đăng, Lều, Lều Vũ, Nông, Nguyễn, Nguyễn Công, Nguyễn Phương, Nguyễn Trọng, Phạm, Phạm Bá, Phạm Hữu, Phạm Trọng, Phạm Văn, Phạm Viết, Phan, Phan Đăng, Phan Đình, Phan Hữu, Phan Sĩ, Phan Văn, Phan Xuân, Thạch, Thái, Thái Doãn, Thái Dung, Thái Khắc, Thái Văn, Trần, Vũ Như, Vũ Tiến, Vũ Trọng…

Thời trước, gia phả cần được giữ kín trong khi sử được phổ biển công khai, ai xem cũng được.
Theo sử gia Phan Huy Chú, năm 1026, vua Lý Thái Tổ đã hạ lệnh biên soạn Hoàng triều ngọc điệp (một thứ gia phả của Hoàng tộc). Đáng tiếc sách này đã mất. Hiện nay, trong số 264 gia phả đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cuốn gia phả của họ Trần (xã Đồng Ngạc, huyện Từ Liêm- Hà Nội) là cuốn có niên đại sớm nhất, được soạn năm 1533. Cuốn này ghi lại thế hệ thứ mười, đời từ Trần Thụ đến Trần Văn Kính.

Về dộ dày, cuốn nhiều số trang nhất là Hương Khế Nguyễn Thị gia phả: 1.200 trang viết tay. Đây là gia phả họ Nguyễn ở Hương Khê, dòng họ này có nhiều người học giỏi.  Cuốn có ít trang nhất là Giáo dục xã Đỗ tộc phả của họ Đỗ ở tống Đại An, huỵên Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, chỉ có 6 trang.

Theo PST.TS. Nguyễn Xuân Kính. 


Tiêu chuẩn viết gia phả

Tháng Tám 30, 2007

Nên viết xa đến mấy đời? Tục ngữ có câu “không ai giầu ba họ, không ai khó ba dời”. Bạn nghĩ sao? Viết lối cơ cấu top-down, sinh cha rồi mới sinh con”, hay bottom-up, từng hộ khẩu, gia đình, rồi sau đó ta “ráp” lại thành họ lớn hơn? Chỉ ghi lại công dức, hiển vinh, đậu đạt hay ghi cả những thất bại, tiêu cực của dòng họ? Có nên coi gia phả cũng phải trung thực như lịch sử không?

Xin qui bạn cho ý kién…


Bổ sung của chú Đức

Tháng Tám 30, 2007

From: Tony leduc <leduc_tony@hotmail.com> To: trandodung@hotmail.com

 Date: Mar 06 2007 – 11:34am  

 Bác Dũng.

 Đây là Email viết với VPS. Xin góp vào bài viết cuả bác chứ không dám sửa:

1) Xin viết thêm về thời gian bác Bính ở Đà lạt và ở Hoa Kỳ.

2) Xét về ảnh hưởng gia đ́nh tới con người bác Bính có tới 3 nguồn:

- Họ ngoại là Trần Ngọc tại Quỹ Nhất, ông cố Phủ tên là Trần Ngọc Quang, cha đẻ ra bà Trần thị Thục, mẹ của ông Bính. Ngôi nhà Đồng Nghĩa là tài sản cuả bên ngoại chia cho bác Bính. Nhóm Trần Ngọc vẫn sinh hoạt với chúng ta ở Hoa Kỳ – Trưởng Tộc là TRẦN NGỌC HIỆN và “nhà hoạt động” Trần ngọc B.

- Họ Trần Đình mà trưởng tộc xưa là cụ Nghị Hoè (Trần đình Hoè) và thuộc cụ Trần đình Hạnh . . . . bên bà Trần Thị Xuân, bị phân sáp từ Hưng Yên về Vị Xuyên Nam Định. Nhóm này anh có cuốn tài liệu và họ này có liên hệ với bà cụ Trần Thị Xuân, là mẹ chị Hiệp, của vợ ông Thượng Nhạ tên Cúc . . .

- Họ Trần Văn của cụ Án Viễn, vợ kế là bà Xuân và con cái là mẹ bác Thuận gái, cụ Huyện Quế, bà Đốc Phương, cô Huyền v.v. Vậy họ Trần Văn này là của chính ông Bính. Cụ Viễn có con trai riêng của bà cả là cụ Án Trần Văn Tiệp (c̣n gọi là Tuần Tiệp). Trong con cái cuả cụ Tiệp có bác vật Trần Kư (gia đình vợ cuả Quách Năm) và ông Trần Quang Văn là bố của anh Trần Quang Thi từng làm Trưởng ty Thông Tin tỉnh Lâm Đồng ở Đà Lạt (Thời anh Dũng còn ở Đà Lạt).

3) Cháu Trần Mạnh Đức là con trai trưởng cuả anh Thi, ngựi đang xin tài liệu gia phả. Vây cháu Mạnh Đức và anh Dũng có họ về NGÀNH CỤ Án Viễn (số 3),. Cháu có Email là :bachuheocon2002@yahoo.ca.Anh ký tên là Trần Đỗ Dũng, con trai ông Trần Văn Bính là các cháu biết ông Bính đấy. Nên thông báo luôn tin ông Bính chết luôn. Khỏang vài tuần nữa Đức sẽ gửi tập in những sưu tầm của Đức cho Mạnh Đức qua một người bạn từ Mỹ sẽ đi. Mình sẽ thảo luận thêm.

 LTD _________________________________________________________________


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.